Nội dung cơ bản, cốt lõi của Đề án về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

Thứ Tư, ngày 6 tháng 10 năm 2021 - 15:34

Ngày 12/6/2021, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Đề án số 03-ĐA/TU về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trích đăng nội dung cơ bản, cốt lõi Đề án, như sau:

Toàn cảnh  Quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Nguồn ảnh: baotuyenquang.com.vn

Tính đến 31/12/2020, Đảng bộ tỉnh có 10 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy (07 đảng bộ huyện, thành phố, 03 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy); 138 xã, phường, thị trấn; 1.733 thôn, tổ dân phố, trong đó có 63 xã, 123 thôn đặc biệt khó khăn; 448 tổ chức cơ sở đảng (Đảng bộ cơ sở là 250, chi bộ cơ sở là 198 và 3.071 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở); 138 xã, phường, thị trấn (124 xã, 10 phường, 04 thị trấn); 3.501 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, giảm 189 người so với đầu nhiệm kỳ 2016-2021 (3.690 đại biểu); Mặt trận Tổ quốc có 138 cơ sở; Công đoàn có 961 cơ sở; Hội Nông dân có 138 cơ sở; Đoàn thanh niên có 347 cơ sở; Hội Liên hiệp phụ nữ có 162 cơ sở; Hội Cựu chiến binh có 188 cơ sở; 56.760 đảng viên (tăng 4.217 đảng viên so với năm 2016); đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm 44,56%; đảng viên là phụ nữ chiếm 38,96%; đảng viên là đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chiếm 13,82%; đảng viên là người có đạo chiếm 1,01%; đảng viên được miễn công tác, sinh hoạt chiếm 10,50%; số đảng viên ở các chi bộ thôn, tổ dân phố là 37.781/56.760, đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nghỉ hưu chiếm 28,34%, đảng viên được miễn công tác, sinh hoạt chiếm 15,64%; cán bộ, công chức cấp xã có  2.708 người; 1.060 người cho 13 vị trí không chuyên trách cấp xã; 4.254 người/1.733 thôn, tổ dân phố với 3 chức danh là bí thư chi bộ, trưởng thôn (tổ dân phố), trưởng ban công tác mặt trận thôn (tổ dân phố); 16.469 cán bộ, công chức, viên chức (cán bộ, công chức 2.160 người, viên chức 14.309 người).

Các cấp ủy, tổ chức Đảng thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; luôn chú trọng thực hiện tốt các khâu trong công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và bố trí, sử dụng cán bộ. Đại đa số cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, có tinh thần trách nhiệm và đoàn kết tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng, tâm huyết với công việc, tổ chức thực hiện có kết quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và các khâu đột phá, nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh.

Tuy nhiên, một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; phương thức lãnh đạo của một số cấp uỷ còn chậm đổi mới; tính chủ động, sáng tạo còn hạn chế. Một số cấp uỷ cơ sở chưa thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; việc quán triệt, triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở một số nơi chất lượng còn hạn chế, mang tính hình thức; công tác quản lý đảng viên có nơi chưa được chú trọng; việc nắm bắt dư luận xã hội, giải quyết các vấn đề nảy sinh ở cơ sở có việc chưa kịp thời, chưa dứt điểm. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ chuyển biến chậm, nội dung sinh hoạt đảng ở một số nơi chưa thực sự đúng thực chất, nhiều chi bộ chưa đề ra được các giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, thiết thực, bức xúc ở địa phương, đơn vị. Vai trò lãnh đạo của một số cấp ủy đảng ở cơ sở đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn hạn chế; việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội còn chậm. Chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở một số cơ quan, đơn vị có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, chưa ngang tầm với nhiệm vụ trong tình hình mới.  Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có lúc, có nơi chưa thực sự gắn với quy hoạch và nhu cầu cán bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa gắn với thực tiễn. Thu hút cán bộ có trình độ cao, sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về địa phương công tác chưa được nhiều. Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của một số cơ quan, đơn vị còn khó khăn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành ở các cấp, các ngành còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và liên thông giữa các cơ quan của Đảng, đoàn thể và cơ quan khối Nhà nước.

Do đó, Đề án đưa ra 03 nhóm nhiệm vụ giải pháp chủ yếu:

Một là, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Hai là, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về củng cố hệ thống chính trị cơ sở.

Ba là, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về Một số giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

* Trong đó nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ nhất về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng có 06 nội dung, cụ thể:

1. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; đổi mới nội dung, hình thức nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ.

2. Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng gắn với việc sắp xếp tinh gọn bộ máy bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên và các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước.

3. Nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên mới; thường xuyên rà soát, phát hiện, giáo dục, giúp đỡ, sàng lọc đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi đảng.

4. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.

 5. Thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị.

6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng

* Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ hai về củng cố hệ thống chính trị cơ sở có 04 nội dung, cụ thể:

1. Thường xuyên xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh

2. Đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã

3. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã

4. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.

* Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ ba giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có 09 nội dung, cu thể:

1. Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức

2. Đổi mới việc tuyển dụng công chức, viên chức

3. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

4. Tiếp tục thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ

5. Sắp xếp, bố trí, sử dụng đúng cán bộ

6. Đảm bảo cơ sở vật chất, điều kiện làm việc và thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức

7. Thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức

8. Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

9. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu về công tác tổ chức xây dựng Đảng

Để thực hiện hiệu quả, Đề án đã đề ra nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan cụ thể, như sau:

1. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh; Lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh: Ban hành các chính sách ưu đãi để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho sự phát triển của tỉnh; chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, tổ dân phố phù hợp với điều kiện của địa phương và quy định của cấp có thẩm quyền.

2. Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh

Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xây dựng chính sách ưu đãi để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho sự phát triển của tỉnh; chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, tổ dân phố để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Đảm bảo các điều kiện về cơ sở, vật chất phục vụ hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.

- Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức từ tỉnh đến cơ sở.

- Xây dựng triển khai đề án cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số và các chương trình, kế hoạch có liên quan đến củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức toàn tỉnh.

3. Ban Tổ chức Tỉnh ủy

- Chủ trì, phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc các cấp ủy, cơ quan liên quan triển khai thực hiện Đề án đảm bảo tiến độ, có hiệu quả.

- Phát hiện những vướng mắc của cơ sở để hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc thẩm quyền; báo cáo và đề xuất với cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung những văn bản lãnh đạo, chỉ đạo cần thiết hoặc có chủ trương để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc kịp thời.

- Phối hợp với các cấp uỷ, các đảng đoàn, ban cán sự đảng, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc tỉnh và các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp để bảo đảm cơ cấu, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở.

- Chủ trì, theo dõi, tổng hợp báo cáo theo định kỳ hằng năm về tình hình, kết quả thực hiện Đề án với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

- Chủ trì, phối hợp với các Ban đảng Tỉnh ủy, Văn phòng Tỉnh ủy, các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị sơ kết 2 năm và tổng kết 05 năm thực hiện Đề án. Đề xuất biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức đảng, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức thực hiện Đề án.

4. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và định hướng tuyên truyền kịp thời các mô hình hay, cách làm sáng tạo trong công tác xây dựng Đảng nói chung và việc thực hiện có kết quả các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án này.

5. Ban Dân vận Tỉnh ủy, các đảng đoàn: Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Cựu chiến binh và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn: Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện các mục tiêu, giải pháp về củng cố tổ chức Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở mà Đề án đã đề ra và gắn với việc thực hiện có hiệu quả Đề án số 02-ĐA/TU ngày 23/5/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là ở cơ sở.

6. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện Đề án gắn với việc kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân triển khai thực hiện tốt, phê bình, chấn chỉnh và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm.

7. Trường Chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức ở cơ sở theo chức danh (cán bộ, công chức cấp xã; cán bộ hoạt động không chuyên trách cấp xã; bí thư chi bộ, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố; trưởng ban công tác Mặt trận và trưởng các chi hội, chi đoàn ở thôn, tổ dân phố) chú trọng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống cụ thể ở cơ sở.

- Phối hợp Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong dạy và học.

- Hằng năm phối hợp với các sở, ngành có liên quan mở các lớp cập nhật kiến thức mới, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ lãnh đạo cấp xã.

8. Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy xây dựng chương trình, kế hoạch để tổ chức thực hiện các nội dung của Đề án theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền (chủ động trong việc bố trí kinh phí để thực hiện Đề án). Cấp ủy, ban thường vụ và đồng chí bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy về kết quả thực hiện Đề án trong phạm vi Đảng bộ của mình.

9. Các cấp ủy, tổ chức đảng, các đảng đoàn, ban cán sự đảng, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy tỉnh và các cơ quan cấp tỉnh căn cứ Đề án và tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Đề án đảm bảo tiến độ, chất lượng. Báo cáo kết quả thực hiện Đề án theo quy định, kết quả thực hiện Đề án là một trong chỉ tiêu đánh giá, xếp loại hằng năm đối với tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị./.

Nguyễn Đình Lộc

 

 

Xem tin theo ngày:   / /